Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013

Những chặng dừng sương mách nhỏ giá.

Ngày ấy lâu rồi, Sùng A Tô là một chàng trai chơi đàn, thổi khèn điêu luyện, lúc dịu như tiếng gió thổi qua bờ cây, lúc nồng rực như ủ men rượu ngô, lúc thầm thào như lời tâm can

Những chặng dừng sương giá

Những bộ áo quần Mông cũng ít có người mặc, may lắm chỉ còn lại những người phụ nữ quanh năm suốt tháng bên bếp lửa là còn biết rầm rì vài lời hát.

Đối với Minh, sự tò mò trước tiên trước âm thanh đặc núi rừng chính là những bí mật của nó, y chang như sự tò mò của những vị khách xa với vườn cải thơm ở Hang Kia. Một ngày nọ là lão thợ rèn người Mông tốt bụng, người đã tỉ mỉ làm nên chiếc đàn môi bé xinh, dù không hề biết chơi đàn chút nào. Lâu lắm rồi, ông Sùng A Tô mới lấy chiếc khèn ra khỏi vách bụi. Người nghệ sĩ đã men theo lời đàn, đỗ lại ở nhiều nơi để gửi gắm tình ái và cả sự cuồng nộ trước những phai nhạt… Giống như ở cái bản Chà Đáy-Pà Cò bé nhỏ này, nơi có căn nhà của ông Sùng A Tô.

Câu chuyện loang vào sương núi, nửa thực nửa như mơ. “Đặc trưng của đàn môi là chơi theo hình thức khẩu hình, phát ra âm thanh gần như giọng nói con người, vì thế mỗi dân tộc có ngôn ngữ đàn môi khác nhau, nhưng các vùng người Mông thì hao hao giống nhau, khó phân biệt”. Vượt một chặng đường gập ghềnh đến đây phần lớn là những vị khách thích lạ kiểu, ưa những khoảng trời khác biệt, những khu vườn thực đấy mà như trong giấc ngủ… Một không gian như trôi bên ngoài cuộc sống ầm ào… Sớm tinh sương, bên bếp củi lách tách, nồi rau cải luộc như thu hết hương thơm từ vườn cải ngoài kia, làm lữ hành bừng tỉnh bỏ lại nơi phản gỗ chăn êm cơn ngủ vùi đường xa.

Ngày đó trai gái thầm thĩ bằng tiếng đàn qua vách kín, giờ trai gái gặp nhau ngoài chợ, ngoài đường, tỏ tình cũng khác xưa, ồn ào, cởi mở hơn. Hiện, mọi sự đang khác đi nhiều. Lau chùi, vẩy vào chút nước lạnh cho dễ thổi, như tưới cho cái cây héo tươi trở lại. Chỉ khác là ông già họ Vàng giờ không còn làm lãnh đạo xã nữa, mà lo toan quản lý cái “khách sạn bản” gần như độc nhất ở Hang Kia, với giá nghỉ qua đêm vài chục nghìn đồng một khách.

Buổi chợ của đồng bào dân tộc thiểu số ở Mai Châu. Minh đã chơi đàn theo cách cảm của một lữ hành người Kinh vẫn chưa hết bỡ ngỡ trước một vẻ đẹp mà theo anh phải được tả bằng những mỹ từ: “Đẹp, tinh khiết, dịu dàng, thánh thót nhưng không kém phần dung dị”.

Một ngày mới ùa vào căn nhà. Phía dưới bếp vẫn treo lủng lẳng nào ngô, nào là những tảng thịt ám khói - món ngon cho những ngày giá rét. Địa danh Hang Kia lấy tên theo tiếng Thái có tức là Hang của bầy dơi. Riêng ông Tô, bên chén rượu, vẫn như chìm vào những mùa đàn cũ. Nhiều người trở thành “ông bầu” của những đêm hội xòe được sắp đặt theo hầu bao của khách.

Đó cũng là lúc ông Vàng A Gia chuẩn bị chăn màn chiếu gối đón khách. Khách nghỉ qua đêm có giấy tạm cư đóng dấu quốc gia. Thung lũng Mai Châu - tỉnh Hòa Bình.

Để chính mình chợt hiểu rằng cái âm thanh đó chỉ độc nhất thuộc về những xứ sở sinh ra nó. Cái kiểu cách đặc chất nhà miền núi. Lâu rồi, không còn nhiều đứa trẻ bản Chà Đáy, Pà Cò thổi được thứ âm thanh quấn quýt, mộc mạc mà thuở tóc còn xanh, ông Tô vẫn hay thổi. Câu chuyện lùi lại như cổ tích. Ngày trước nơi đây có nhiều người Thái, sau khi họ rút đi, người Mông tìm đến dựng bản.

Khí hậu trong lành, những vườn mận tươi tốt trong sự mến khách của người địa phương. Ông thì thào trong tiếng gió rào bên ngoài bờ cây, dưới cái nắng mỏng dính bên thềm căn nhà đất.

Nếu chỉ nghe Minh thuyết giảng, nếu chỉ nhìn qua chiếc đàn bé xíu mà không được nghe âm thanh thì chẳng nghĩa lý gì. Rồi một lần kia là buổi chiều trên đỉnh đèo lau gió, anh tấu lên điệu đàn cho vị trưởng bản nghe, để chính mình quên đi mọi sự. Mang theo sự tò mò và nỗi say mê, Minh liên hồi qua nhiều vùng đất, gặp gỡ nhiều con người. Ông Vàng A Gia gợi một phong tục đẹp: “Uống một chén rượu không phải cho riêng mình mà để gửi gắm cho một người mà mình thương quý”.

Để con gái thích thì phải luyện tiếng khèn, tiếng đàn môi sao cho thật quyến rũ, như hơi thở núi rừng, như tiếng suối trong trẻo và tiếng lòng khẩn thiết

Những chặng dừng sương giá

Trào lưu người dân làm du lịch tự phát từ thị trấn ùa vào Pà Cò, Hang Kia… Có chút rạn nứt mơ hồ. Hơn mười tuổi, ông Tô lỗ mỗ thổi khèn, tuổi đôi mươi uyển chuyển hơn nhờ nhiều đêm luyện từ một ông thầy người Mông… Điệu khèn hay phải thổi từ trong lòng.

Gian nhà rộng hơn, với những dãy phản gỗ chắc nịch đủ chỗ ấm cho hàng chục khách. Ông già họ Vàng nguyên là Bí thư xã.

Ánh mắt già nửa nheo cười nửa nuối tiếc… Ánh mắt đó tôi đã từng thấy trong đôi mắt nghệ sĩ Đức Minh, người mà bao năm trời nay mài miệt say theo tiếng đàn môi. Đàn môi thôi ở trên môi, khèn thì im trên vách. Hang Kia vẫn ngập sương. Bây giờ chẳng có ai thổi được khèn, chơi được đàn môi như ông ngày trước.

Mấy người con dâu ông Tô vừa làm mấy món ăn ngày Tết vừa hát khẽ. Bữa cơm sáng có rượu nồng kéo dài thay cho lời chia tay Hang Kia. Trong buổi chiều xám nhạt như vẫn còn vương vấn chút ánh ngày, thấy xuất hiện những vị khách nước ngoài lặn lội đi tìm những gì không có bên trời Tây. Bản ngóng gió lạ. “Biết thổi khèn thì con gái thích lắm”. Chẳng ai tả được tiếng khèn bằng chính câu dịch nghĩa lời khèn của những người Mông Pà Cò: “Khèn hỏi rằng cô gái yêu anh không, không yêu, anh về muốn chết…”.

Chén rượu chúc nhau một ngày tốt đẹp, một ngày trót lọt. Chuyện lấy đặc thù sông suối để đặt tên bản, tên xã như thế, ông Vàng A Gia nghe lại từ các cụ già trong bản.

Hang Kia, Pà Cò, Bản Lác, Bản Văn… sẽ có du lịch sinh thái-văn hóa trong tương lai, sẽ khác nhiều, không phải do người dân làm tự phát như bây chừ… Ngoài thị trấn, nơi có nhiều bà con người Thái, các khung dệt thổ cẩm lại bắt đầu kẽo kẹt, các cô gái luyện lại các bài múa Thái, học thêm chút tiếng Anh bập bõm.

Nhiều hộ gia đình dành khuôn viên nhà sàn cho nhà nghỉ hoặc quầy tạp phẩm, đồ lưu niệm. Nhưng gì thì một ngày đã chính thức trôi qua. Có vài niềm vui mới đến.

Bản không còn im lìm. Có điều gì đang tuột dần khỏi bàn tay, tuột dần khỏi những ngày hội… … Lâu lắm rồi, khi có khách xa, ông Sùng A Tô mới gỡ chiếc khèn xuống, mới nhờ đứa cháu lùng khắp bản mượn cho bằng được chiếc đàn môi bé xíu như cái bút học trò. Theo Hồn Việt. Người Mông thường bảo rằng, đàn môi, khèn, sáo là tín hiệu của mùa hò hẹn. Thời điểm bắt đầu phong trào phá bỏ cây thuốc phiện là lúc cây mận đơm hoa ở vùng này, tạo nên một nét bình yên.

Ông Vàng A Gia kể nhiều về vùng đất này. Đầu những năm 90, ông quyết định dựng nhà mới thay cho căn nhà cũ để đón khách nghỉ qua đêm. Và chính chàng nghệ sĩ trẻ trong bữa rượu nơi thung sâu sương phủ đã dạy điệu đàn xứ sở cho lão thợ rèn người Mông.

Dọc miền tổ quốc, đàn môi có trên 10 loại, thì hiện ở nhà Minh lưu giữ được 5 loại.

Mặc dù bình dân, tự phát nhưng hằng tháng ông vẫn đóng thuế, tuân theo quy định của chính quyền xã. Vậy thì hà cớ gì không say, nhất là khi ngoài vườn mận kia, sương vẫn còn thẫm ướt, dù buổi trưa đã dần báo hiệu trên chiếc đồng hồ cũ lạc lõng nơi gian nhà đất thấp lè tè.

Đứa cháu nội trong nôi, cằn cặt khóc gọi mẹ. Nghe nói mai này, Mai Châu sẽ tụ tập đầu tư cho du lịch.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét